Thứ Hai, ngày 21 tháng 3 năm 2011

Dịch Vụ Ngân hàng 2008


Banking 2008: Tính thoả thuận giữa NH và khách hàng không cao

 Dự án “Hiện đại hoá ngân hàng” giai đoạn 2 sẽ kết thúc vào cuối năm 2009 và hy vọng sẽ gặt hái thành công như giai đoạn 1, Cục trưởng Cục Công nghệ Tin học của Ngân hàng Nhà nước, ông Tạ Quang Tiến nói trong trong buổi hội thảo Banking 2008 tại TPHCM hôm 02/12/2008.
Số lượng máy ATM dự đoán đến cuối năm 2008 sẽ là 6.889 và số máy POS (máy chấp nhận
Nhiều máy ATM thế hệ mới sử dụng hệ điều hành WindowsXP được giới thiệu tại triển lãm Banking 2008. (Ảnh Doanh Anh)
thanh toán thẻ) đã lên đến gần 30.000 cái trên toàn quốc với 15 dịch vụ được áp dụng. Hai liên minh thẻ lớn nhất là SmartLink và BankNet đã kết nối với nhau và có tổng cộng 4.500 máy ATM, chiếm 70% số lượng máy ATM của toàn hệ thống ngân hàng.
11 ngân hàng VN đã triển khai Internet Banking, bao gồm 9 dịch vụ thông dụng nhất và 18 ngân hàng đã áp dụng hệ thống xác nhận chữ ký điện tử..
Tăng cường Internet Banking và Mobile Banking là 2 trong số các nội dung sẽ triển khai mạnh trong giai đoạn 2 của dự án do ngân hàng thế giới tài trợ, ông Tiến cho biết.
Tính thoả thuận giữa ngân hàng ở VN và khách hàng không cao bằng ở nước ngoài, ông Tiến đánh giá bên ngoài hội nghị Banking 2008.
Lý giải cho nhận định này, ông Tiến cho rằng vấn đề xuất phát từ cả hai phía. Phía ngân hàng chưa đánh giá khách hàng một cách đúng nghĩa và ngược lại phía khách hàng còn xem ngân hàng là một cơ quan chính phủ.
Tuy nhiên, ông Tiến cũng thừa nhận công nghệ ngân hàng còn kém nên vẫn chưa đáp ứng đòi hỏi nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tại TPHCM cũng nhận định chỉ khi có công nghệ ngân hàng hiện đại với phương thức quản trị tiền tệ áp dụng CNTT tiên tiến thì ngân hàng mới khẳng định được vị thế trong thời điểm hiện tại.
Hội thảo và triển lãm Banking 2008 do IDG tổ chức còn bao gồm một số thuyết trình về phương thức quản lý rủi ro trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hội nghị sẽ kéo dài đến hết ngày 03/12 với một số chủ đề về bảo mật trong ngành ngân hàng.
  • Doanh Anh

Banking Vietnam 2008Chạy đua công nghệ thanh toán điện tử tại Việt Nam10:41' 23/05/2008 (GMT+7) 

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 3 năm 2011

Nguyên tắc Phong thủy

1. Một hệ thống chỉnh thể :
Một môn khoa học hoàn chỉnh phải có một chỉnh thể hệ thống luận thống nhất. Trước đây chúng ta hay bắt gặp những mảnh vụn của một lý thuyết hợp nhất nên có cảm tưởng rằng Phong Thuỷ là một môn khoa học phiến diện thiếu tính hệ thống.

am-duong.jpg

Kỳ thực nó phải dựa trên một chỉnh thể hệ thống luận, lấy con người làm trung tâm của thiên nhiên, bao quát thiên địa vạn vật, hoàn cảnh xung quanh con người có nhiều yếu tố chúng có mối liên hệ tương hỗ, hạn chế, tương hỗ tồn tại, tương hỗ đối lập và chuyển hoá.

Phong Thuỷ học có mục đích truy tìm những nhân tố này, xem xét để tối ưu hoá kết cấu giữa các nhân tố tìm sự tổ hợp tốt đẹp nhất. Phong Thuỷ luôn quan tâm chú ý đến tính chất chỉnh thể của hoàn cảnh.

Hoàng đế Trạch Kinh viết : “Lấy hình thế như thân thể, lấy sông nước như huyết mạch, lấy đất đai như da thịt, lấy thảo mộc như lông tóc, lấy đường ốc như y phục, lấy cổng cửa như đai mũ, nhược đắc như suy nghĩ, xem xét nghiêm túc như thế là thượng cát”.

Như vậy ứng dụng nguyên tắc này vào môn Phong Thủy là phải xem xét thấu đáo tất cả các nhân tố xung quanh môi trường, phối hợp, loại bỏ và tương tác chúng theo một hệ thống thống nhất đặt con người là trung tâm.

Phong Thuỷ hiện đại còn cần lấy con người, mục đích sinh sống làm việc của con người làm trọng tâm.

2. Nguyên tắc Nhân - Địa phù hợp :

Nguyên tắc này là căn cứ tính chất của hoàn cảnh khách quan để thích nghi với mục đích, phương thức sinh hoạt của con người. Nước ta địa hình phức tạp, đồi núi sông hồ đa dạng, địa mạch kéo dài, thổ nhưỡng khí hậu đa dạng, địa hình thiếu đồng nhất.

Mỗi vùng mỗi miền có một đặc trưng riêng về đất đai, mạch núi mạch sông, khí hậu, lượng mưa, rừng nhiều ít. Miền Tây Bắc thì núi non trùng điệp, khí hậu lạnh cần tàng phong tụ khí, tránh khí lạnh xâm nhập, tránh lụt lội lở đất.

Miền Nam thì nắng nhiều, mưa ít phòng hoả hoạn, hạn hán. Chính vì thế phải phân hoạch cụ thể mỗi vùng thì phù hợp với Phong Thuỷ như thế nào, từ đó có cách thức hài hoà với điều kiện sinh sống và làm việc của con người.

3. Nguyên tắc dựa vào sơn thuỷ :

Nguyên tắc nương dựa theo sơn thuỷ là nguyên tắc tối cơ bản nhất của Phong Thuỷ, sơn mạch đại địa là khởi nguyên của năng lượng, thuỷ là mẹ của vạn vật, nếu không có mạch nước mạch núi thì con người và vạn vật không thể tồn tại.

Nương theo hình thế sơn thuỷ chia làm hai loại, loại thứ nhất là “sơn bao huyệt” đất bao xung quanh huyệt, tức là xung quanh huyệt có ba mặt bao quanh bởi quần thể núi non, ở giữa là khoảng không, mặt phía nam của huyệt khoáng đạt có minh đường rộng lớn.

Thế mạch núi của nước ta kéo dài trùng điệp theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, kéo dài qua hàng trăm cây số đột nhiên hội tụ lại, 3 phương Tây, Bắc, Đông hội tụ thành 3 đỉnh núi thế liên hoa như đài sen nở ra ôm lấy nhuỵ, ở giữa là huyệt tốt lành.

Nếu là làng xóm, thị trấn thì yên bình phát triển. Nếu là huyệt nhỏ thì thành gia đình uy danh phú quý phát nhiều đời, nam nữ già trẻ tôn ti phép tắc phúc thọ lâu dài.

Loại thứ hai là loại “huyệt bao sơn”, tức là lấy một ngọn núi trung tâm làm chủ, nhà cửa xây dựng lấy núi làm lưng mà dựa vào, hướng ra xung quanh. Núi ở sau lưng che chở bảo vệ cho huyệt thành thế được che chắn, tàng phong tụ khí vốn là nguyên lý chuẩn tắc của Phong Thuỷ.

Những đỉnh núi đẹp đẽ, địa mạch cát lành hội tụ, phía trước đỉnh núi thường có sông hồ hội tụ làm minh đường, thế toạ núi nhìn sông thường thấy nhất trong các huyệt vị đẹp về Phong Thuỷ.

4. Nguyên tắc quan sát hình thế :

Phong Thủy vô cùng quan trọng việc quan sát hình thế mạch khí, sơn thuỷ vì có quan hệ trực tiếp đến học phúc, phải quan sát tiểu cục thông qua sự tương quan với đại cục. Nếu đại cục hưng vượng thì cho dù tiểu cục có xấu cũng không đang ngại, nếu cả hai cùng xấu thì không nên dùng.

Thoạt tiên phải xem xét tổ sơn long mạch xuất phát từ đâu đến, sau xem xét cụ thể các đỉnh núi mà long nhập thủ, xem xét cốt cách, hình dáng luận tính chất của mạch, xem xét sa sơn, thuỷ đến, thuỷ đi, xem xét minh đường rồi mới xem đến cách cục nơi huyệt toạ lạc.

Nhiều khi thông qua quan sát hình thế đã phần nào nhận định được hoạ phúc, đó cũng chính là điểm mấu chốt của trường phái hình thế khi xem xét Phong Thuỷ.

Cách thức chung nhất thường là xem xét xem long mạch chạy theo hình thế như thế nào, sau đó quan sát nơi có quần sơn toạ thủ hoặc nơi long mạch đổi hướng thì chắc chắn có huyệt, tìm kiếm các sơn bao bọc huyệt, dựa vào thuỷ tìm ra minh đường, rồi luận đến tính chất tốt xấu của huyệt dựa vào hình thế núi non sông nước, hình thế của án sơn, sa sơn, thuỷ đến, thủy đi.

5. Thẩm định địa chất :

Phong Thuỷ không thể không có khoa học về địa chất, riêng môn địa chất đã chứng minh được là nó có những liên hệ mật thiết đến sức khoẻ đời sống con người.

Con người luôn có những dao động điện từ, ngay môi trường xung quanh cũng có những trường điện từ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người thông qua sự giao thoa về trường sóng.

Những yếu tố sinh hoá cũng vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng đến khí hậu và nguồn nước nơi con người sinh sống. Có thể khảo sát thông qua những yếu tố sau :

Tỳ Hưu Bắc Kinh

- Sinh hoá : Phẩm chất của đất hàm chứa những nguyên tố có lợi cho sức khoẻ, tránh những nguyên tố phóng xạ hoặc gây hại cho sức khoẻ.

Thông qua quan sát màu sắc, mùi vị của đất, cần được màu sắc tươi tắn, hoặc đỏ vàng, hoặc nâu đen mịn màng, tránh mùi vị tanh hôi. Chất lượng đất cũng có thể phát hiện thông qua sự sinh trưởng của thực vật vùng quanh huyệt.

- Từ trường : Nếu vùng đất tồn tại phóng xạ hoặc từ trường xấu cũng sẽ ảnh hướng đến sinh hoạt, từ trường cần thuần nhất, tránh hỗn tạp, thông qua đo đạc la bàn ở nhiều vị trí có thể xác định được từ trường của huyệt tốt hay xấu.

Hiện có những trường phái cảm xạ thông qua con lắc để thẩm định từ trường quyết định mức độ tốt xấu của huyệt. Ngay trong quá trình xây dựng cũng cần thiết lưu ý điều này, tránh những nguồn phát từ trường có hại cho huyệt.

6. Thẩm định nguồn nước :

Nước vô cùng quan trọng đối với các sinh vật nói chung và với con người nói riêng. Về Phong Thuỷ, nước chính là những dòng mạch đi kèm hộ vệ cho sơn mạch. Chất lượng của đất quyết định chất lượng của nước bởi nước sinh từ trong lòng đất.

Các phái Phong Thuỷ kinh điển chú trọng “tầm long nhận khí”, nhận khí thuờng thủy”, tức luôn lấy chất lượng thuỷ làm tiêu chuẩn đánh giá khí trường tốt xấu. Nên lưu ý những kinh nghiệm sau đây về chất lượng cuả nước : Quý nhất là sắc nước trong màu xanh ngọc, vị ngọt hoặc nước phát ra mùi thơm không tanh hôi chủ đại quý.

Khí chất nước trong màu trắng, vị thanh, ấm áp chủ trung quý. Mạch nước cần dài sâu, bốn mùa xuân hạ thu đông đều không cạn kiệt. Tránh nước có màu sắc đen, sắc đỏ, nguồn nước hung dữ, nước vẩn đục tanh hôi, hoặc vị đắng chủ hung khí.

Phải lưu ý rằng nếu nước xấu sẽ có những nguyên tố có hại cho sức khoẻ con người mà khoa học hiện đại cũng chỉ ra đó là những nhân tố có thể gây bệnh như ung thư.

7. Toạ bắc hướng nam :

Đối với các tỉnh phía Bắc, chịu ảnh hưởng chủ yếu của khí hậu nhiệt đới gió mùa, gió mùa thường thổi vào từ phương Bắc mang theo khí lạnh nên gọi là âm phong, chủ hại cho sức khoẻ con người và mọi vật.

Phương nam thường có gió đông nam ấm áp, nhiều hơi nước gọi là dương phong tốt mang nhiều dương khí. Thường nhà cửa từ xưa đều chọn toạ bắc hướng nam vì vừa tránh được lạnh, vừa lấy được gió mát nam mùa hè.

Tuy nhiên đối với các khu vực ở miền nam thì sự suy luận lại đảo ngược, phương bắc lại là phương tốt để lập hướng. Thông qua việc ngũ hành âm dương hoá các phương vị đã phản ánh được tính chất của khí hậu và sự vận chuyển các luồng khí theo thời gian và không gian.

8. Nguyên tắc hài hoà trung tâm :

Xét trong một chỉnh thể thống nhất, Phong Thuỷ tối quan trọng sự hài hoà âm dương, thể hiện ở nguyên lý nhà cửa phải hài hoà cân đối, không cao không thấp, không nghiêng lệch, thường được thiết kế theo nguyên tắc cân đối, đối xứng theo hình chữ Tam, chứ Tứ.

Nếu hình thế quá cao thì gọi là cô dương không tốt chủ sự thái quá. Nếu hình thế quá thấp gọi là cô âm chủ sự bất cập, đòi hỏi phải cao vừa phải, cân xứng. Sau khi xây dựng nên các công trình sẽ hình thành nên trường khí, sự vận chuyển của khí phụ thuộc rất nhiều vào quy hoạch kiến trúc.

Phải lấy khí uốn lượn hữu tình, tụ khí, tránh khí bị trực xạ, tản mát, minh đường cần rộng thoáng vừa với huyệt để dừng khí trước khi tụ lại huyệt. Lấy một toà nhà trung tâm làm chính, các phương tả hữu phải thiết kế phù trợ cho trung tâm, tránh to lớn hoặc cách xa trung tâm để tạo thế vua tôi triều củng.

9. Nguyên tắc cải tạo :

Ngoài việc thuận theo hình thế tự nhiên của núi sông, tìm ra nơi sinh khí tụ hội để xây dưng. Ngoài ra tự nhiên không phải bao giờ cũng tối ưu về mọi mặt. Thông qua sự khảo sát tìm ra khiếm khuyết của huyệt, dùng những cách thức cải sửa Phong Thuỷ thích hợp sẽ hoá giải được những bất cập.

Nếu thiếu sơn thuỷ có thể xây dựng các công trình giả lập, khí không tụ tàng có thể xây dựng để hướng dẫn luồng đi của khí theo hướng thích hợp tránh được tản mát. Nếu chất lượng khí, nước không tốt có thể cải sửa thanh lọc dần biến hung thành cát hoặc ít ra cũng đỡ được một phần cái xấu.

10. Tiên tích đức hậu tầm long :

Cái đích cuối cùng cuả thuật Phong Thuỷ là đạt tới mức Thiên -Địa - Nhân tương hợp. Để sử dụng, cảm hoá được những nguồn năng lượng của trời đất, con người cũng phải có được những giá trị tương ứng về tâm linh với cùng một sự đồng cảm.

Đòi hỏi phải tu nhân tích đức, chỉ khi có đức mới tìm ra được những huyệt vị tốt hài hoà với căn cơ của mình. Bởi luật nhân quả chi phối rốt ráo mọi hoạt động của con người.

Nguồn: Phong Thủy Tổng Hợp

10 nguyên tắc trong Phong Thủy

10 nguyên tắc trong Phong Thủy

Thứ Ba, ngày 28 tháng 12 năm 2010

Chủ Nhật, ngày 27 tháng 6 năm 2010

Dịch vụ ngân hàng Viêt Nam

KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
 



ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
MÔN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ



THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRƯỚC XU THẾ HỘI NHẬP


Nhóm thực hiện:
1.Lê Trung Hiếu
2. Nguyễn Phi Sơn
3. Vũ Minh Phương
4. Nguyễn Bá Hưng
5. Trần Kim Bình
6. Châu Thị Lệ
7. Văn Thị Thu Vân
8. Nguyễn Thị Hương Giang



 
Giáo viên hướng dẫn:
TS. Vũ Thị Minh Hằng
 
 


 




TP.HCM, tháng 5 năm 2008
 
 



Phần 1: Giới thiệu

---o0o---
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là thời cơ, vừa là thách thức với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam. Đối với ngành ngân hàng, sau khi gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam ngày càng nhiều sẽ làm tăng cạnh tranh, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng. Khi đó, những lợi thế hiện nay của các ngân hàng thương mại trong nước sẽ giảm thiểu bởi thực hiện cam kết giữa Chính phủ nước ta với các nước thành viên WTO. Nếu không kịp thời đổi mới tổ chức và hoạt động kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển của các ngân hàng thương mại quốc tế, chắc chắn các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ tụt hậu và khó đứng vững trong cạnh tranh và phát triển tại sân nhà. Để hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn, tài chính ngân hàng và các ngân hàng thương mại quốc tế, những năm qua các ngân hàng thương mại nước ta đã có nhiều đổi mới và cải cách tổ chức và hoạt động theo hướng hiện đại hóa.
Quá trình hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành một trong những nội dung chủ yếu, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ các quan hệ kinh tế, tài chính của mỗi nước và của toàn thế giới; nó vừa góp phần nâng cao hiệu quả phân phối nguồn lực và phát triển kinh tế, tăng cường khả năng thanh toán vừa thúc đẩy thị trường tài chính phát triển ổn định đồng thời nó cũng nâng cao chất lượng hoạt động cuả hệ thống ngân hàng và các trung gian tài chính khác. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng là một việc làm quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hệ thống ngân hàng nước ta đang từng bước hội nhập với quốc tế hiện nay.
Do đó, nhóm chọn đề tài “Thị trường dịch vụ ngân hàng trước xu thế hội nhập” nhằm hiểu rõ hơn về xu thế hội nhập của thị trường dịch vụ ngân hàng hiện nay nhằm tạo sự chuẩn bị tích cực của ngành ngân hàng cho quá trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

 



Phần 2: Tổng quan về Thị trường dịch vụ ngân hàng

2.1. Khái niệm:

Kinh tế dịch vụ:
Cùng với sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu, các ngành sản xuất vật chất và phục vụ đời sống con người ngày càng phát triển, trong đó có ngành dịch vụ. Xét về nguồn gốc, ngành dịch vụ ra đời cùng với sự xuất hiện nền kinh tế hàng hóa. Theo Marx thì dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa.
Gắn với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của ngành dịch vụ ngày càng quan trọng, quan niệm về dịch vụ cũng dần thay đổi. Lĩnh vực dịch vụ không đơn thuần chỉ là chức năng  lưu thông, phân phối mà còn được phát triển rất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau như: Bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, vận tải, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ hành chính, tư vấn…
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thức vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả các nhu cầu  của sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Có nhiều loại hình dịch vụ khác nhau trong đó dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính.
Trong những năm gần đây, trước xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cấp thiết, quan niệm về dịch vụ ngân hàng đã được đổi mới theo thông lệ quốc tế. Theo đó, khái niệm dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu chung nhất đó là các công việc trung gian về tiền tệ của các tổ chức nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và đem lại nguồn thu phí cho các tổ chức cung ứng dịch vụ.
Dịch vụ ngân hàng bao gồm các loại hình dịch vụ cơ bản sau:

2.1.1. Dịch vụ huy động vốn:

Huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức đặc thù của Ngân hàng thương mại (NHTM), chính đặc thù này đã giúp cho các NHTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn các NHTM sẽ thu hút được các khoảng tiền tiết kiệm của dân chúng, tiết kiệm của nền kinh tế và sử dụng nguồn vốn thu hút được (sau khi đã trích dự trữ bắt buộc theo qui định) để cho vay.
Hiện nay, các NHTM đã có nhiều hình thức huy động vốn đa dạng và phong phú, với nhiều tiện ích như: Gửi 1 nơi rút nhiều nơi, lãi suất linh hoạt và hấp dẫn, chuyển khoản dễ dàng, thủ tục nhanh gọn, thuận tiện,… thu hút ngày càng khách hàng và người dân đến gửi tiền.

2.1.2. Dịch vụ tín dụng:

            Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.
Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ.
            Các NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng phát triển với nhiều hình thức tín dụng như: tín dụng kích cầu, tín dụng tiêu dùng, tín dụng phục vụ phát triển nông thôn; đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư với nhiều hình thức đầu tư như: cho vay trực tiếp, tài trợ dự án, góp vốn, đầu tư các loại giấy tờ có giá,…

2.1.3. Dịch vụ thanh toán:

Dịch vụ thanh toán là loại hình dịch vụ mà thông qua đó các ngân cung cấp các tiện ích về các phương thức thanh toán cho các đối tượng khách hàng như: Thanh toán qua thẻ, Thanh toán Séc, Tài khoản tiền gửi…
Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thanh toán đã tạo ra khả năng thanh toán nhanh, chính xác, an toàn và bảo mật và thu hút nhiều tổ chức kinh tế, khách hàng quan hệ giao dịch và thanh toán với ngân hàng.

2.1.4. Dịch vụ ngoại hối:

Dịch vụ ngoại hối là loại hình dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp để thực hiện các hoạt động mua bán ngoại hối, Thanh toán mậu dịch (Xuất - nhập khẩu), thanh toán phi mậu dịch (Chu – chi ngoại tệ), kiều hối và thu đổi ngoại tệ cho khách hàng.

2.1.5. Dịch vụ ngân quỹ:

            Hoạt động dịch vụ ngân quỹ của các NHTM ngày càng phát triển bao gồm nghiệp vụ phổ biến sau: thu đổi tiền mặt VND, ngoại tệ, dịch vụ nộp, rút tiền mặt, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, dịch vụ cất giữ, dịch vụ chi lương trực tiếp, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng… 

2.1.6. Dịch vụ khác:

Dịch vụ ngân hàng điện tử (home banking, internet banking, ebanking,…), thẻ ngân hàng (ATM),… Sự phát triển các loại hình dịch vụ này sẽ tạo nhiều thuận lợi, tiện ích và an toàn cho khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các hoạt động dịch vụ khác trong nền kinh tế phát triển như: hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh xuất nhập khẩu, du lịch dịch vụ,… 
            Tóm lại, các loại hình dịch vụ tài chính đã phát triển khá đa dạng và phong phú, chất lượng dịch vụ cũng từng bước được nâng lên, do đó đã ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng về sử dụng nhiều loại hình dịch vụ tài chính trong nền kinh tế. Tuy nhiên, các loại hình dịch vụ truyền thống như tiết kiệm, tín dụng và một số nghiệp vụ bảo hiểm con người, xe cơ giới...vẫn là những dịch vụ chính, chiếm tỷ trọng lớn nhất trên toàn bộ thị trường; đa số các dịch vụ còn lại mới hình thành và phát triển, thậm chí một số dịch vụ mới ra đời trên giấy tờ (dịch vụ đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán), một số dịch vụ đang trong quá trình thử nghiệm và một số dịch vụ khác chưa hình thành như thương phiếu..., nên mức độ đáp ứng các nhu cầu đa dạng của thị trường còn thấp. Các khách hàng truyền thống như khu vực doanh nghiệp quốc doanh, dân cư đô thị vẫn là đối tượng khách hàng chính, được tập trung khai thác nhiều nhất; vì vậy, thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam hiện nay vẫn chưa khai thác hết mọi tiềm năng về các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế.

2.2. Thực trạng thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam:

2.2.1. Dịch vụ huy động vốn:

Theo Báo cáo thường niên năm 2006 của NHNN Việt Nam, huy động vốn của toàn hệ thống năm 2006 cao hơn so với năm 2005. Tính đến cuối năm 2006, tăng trưởng huy động vốn của toàn hệ thống đạt 36,53% so với năm 2005, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 32,08% của năm 2005. Trong đó huy động vốn bằng VND tăng 40,99%, cao hơn so với mức 36,17% của năm 2005; huy động bằng ngoại tệ tăng 25,31%, cao hơn so với mức 22,81% của năm 2005.
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2006 của NHNN Việt Nam)
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2006 của NHNN Việt Nam)
Trong thời gian qua, các tổ chức tín dụng đã có nhiều giải pháp tăng cường huy động vốn như đa dạng hóa các hình thức huy động, khuyến mãi hấp dẫn…Đặc biệt là sau khi NHNN tập trung chỉ đạo triển khai cơ chế điều hành lãi suất cơ bản mới với các Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng VND, Quyết định số 1099/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.
Hiện tại, lãi suất huy động của các NHTM hiện đang phổ biến ở mức: NHTM nhà nước: Lãi suất huy động đối với VND không kỳ hạn là 4,0%/năm, kỳ hạn 3 tháng là 13,43%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 13,53%/năm, kỳ hạn 12 tháng 13,67%/năm. NHTM cổ phần: Lãi suất huy động đối với VND không kỳ hạn là 4,49%/năm, kỳ hạn 3 tháng là 14,01%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 16,16%/năm, kỳ hạn 12 tháng 14,3%/năm. Điều này làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống ngân hàng như nhận định của Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietinbank – TS. Phạm Huy Hùng.

2.2.2. Dịch vụ tín dụng:

Năm 2006 dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng 25,44% so với năm 2005, thấp hơn nhiều so với mức tăng 31,10% so với năm 2005 và mức tăng 41,65% của năm 2004.
Do vậy năm 2007, các chính sách về mở rộng tín dụng đã làm tăng lượng cung tiền ở thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Hoạt động tín dụng tăng trưởng nóng đã tạo cho áp lực cho hệ thống ngân hàng phát triển kém bền vững.
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2006 của NHNN Việt Nam)
bieudo122007.gif
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2005 của NHNN Việt Nam)
Tỷ trọng cho vay theo ngành kinh tế năm 2006 không biến động nhiều so với các năm trước. Dư nợ cho vay ngành Nông lâm thủy sản tuy có xu hướng giảm so với năm trước nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu cho vay của hệ thống ngân hàng, khoảng 29,2%. Tiếp theo là các ngành công nghiệp và xây dựng, chiếm khoảng 25,5% và 14,5%. Tỷ trọng cho vay ngành thương nghiệp tiếp tục duy trì ở mức như 2005, khoảng 17,7% trong tổng dư nợ.
Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các tổ chức tín dụng. Tình hình nợ xấu có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, tỷ lệ nợ xấu phân theo tiêu chuẩn quốc tế còn cao  (Năm 2000: 29,57%; 2001: 27,28%; 2002: 25,23%; 2003: 23,42%; 2004: 21,45%; 2005: 20,7%) và chưa được kiểm soát hợp lý, tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Nhiều khoản tín dụng của các NHTM nhà nước tập trung vào các ngành rất rủi ro.
Tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước tăng lên. Mặc dù lãi suất tăng lên tạo điều kiện thu hút thêm tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng, nhưng việc lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng thêm, và điều đó tạo thêm gánh nặng về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vay từ ngân hàng. Trong điều kiện nói trên, một phần không nhỏ số doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh toán và phá sản nếu không được tiếp tục vay vốn từ ngân hàng. Hậu quả là ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay để nuôi nợ, dẫn đến nguy cơ mất vốn ngày càng lớn.
Hiện tại, lãi suất cho vay của NHTM đối với khách hàng hiện đang phổ biến ở mức: các NHTM Nhà nước lãi suất cho vay loại ngắn hạn từ 12,82-16,8%/năm, trung và dài hạn là 13,8-18%/năm; các NHTM Cổ phần đã điều chỉnh lãi suất sát với mức 18%/năm.

2.2.3. Dịch vụ thanh toán:

Tổng phương tiện thanh toán (PTTT) đến 31/12/2006 tăng 33,59% so với 31/12/2005, cao hơn so với mức tăng 29,65% của năm 2005. Về cơ cấu tiền gửi vẫn chiếm tỷ trọng lớn, chiếm 82,7% trong tổng PTTT. Trong đó, tỷ trọng tiền gửi bằng VND chiếm 61,17%, cao hơn mức 57,93% của năm 2005. Tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ giảm nhẹ, chiếm 21,62% (Năm 2005 là 23,06%).
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2006 của NHNN Việt Nam)
(Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2005 của NHNN Việt Nam)
Thanh toán bằng tiền mặt có xu hướng ngày càng giảm xuống, nhưng vẫn còn lớn. Cụ thể, Tỷ lệ tiền mặt/M2 những năm gần đây: 1991: 31,6%; 1994: 43,3%; 1998: 26,4%; 2000: 23,4%; 2002: 22,6%; 2004: 20,35%; 2005: 19,01% và 2006: 17,46%.
(Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế - 6/2005; Báo cáo thường niên năm 2006, NHNN Việt Nam)
            Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng là nền tảng quan trọng cho việc mở rộng các dịch vụ ngân hàng trong thời gian tới, khối lượng giao dịch bình quân, hệ thống xử lý là 12.000 giao dịch một ngày, có ngày lên đến 30.000 giao dịch một ngày. Doanh số thanh toán qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng bình quân đạt 8.000 tỷ đồng/ngày. Đến nay đã có 65 ngân hàng thành viên với 270 chi nhánh tham gia hệ thống.

2.2.4. Dịch vụ ngoại hối:

Trong năm 2006, Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tiếp tục phát triển khá mạnh với qui mô và doanh số giao dịch tăng cao. Doanh số giao dịch giữa các ngân hàng tăng khoảng 45% so với 2005. Trong đó, doanh số  giao dịch giao ngay tăng 42%, các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi tăng 71%. Qua đó cho thấy các ngân hàng đã tiếp cận và sử dụng nhiều hơn các nghiệp vụ giao dịch để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối. Doanh số giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng tăng khoảng 26% so với năm 2005.
Trong năm 2006, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đã có 65 thành viên tham gia, tăng 6 thành viên so với năm 2005. Các ngân hàng thành viên tham gia thị trường một cách tích cực đã góp phần làm cho hoạt động trên thị trường càng thêm sôi động. Với vai trò can thiệp cuối cùng để ổn định thị trường, NHNN đã thực hiện mua bán ngoại tệ với các NHTM một cách kịp thời để hỗ trợ vốn VND cũng như nhu cầu về ngoại tệ để nhâp khẩu và nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ của các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ xuất khẩu và kiều hối tăng khá nguồn cung ngoại tệ trên thị trường năm 2006 tương đối dồi dào, tạo thế chủ động cho NHNN trong việc can thiệp thị trường và điều ành chính sách tiền tệ.
Biểu đồ: Lượng kiều hối qua các năm:
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
            Chuyển tiền kiều hối góp phần tài trợ cán cân thanh toán. Đây là nguồn ngoại hối một chiều ổn định so với các nguồn thu ngoại tệ khác của nền kinh tế, là nguồn vốn không tạo ra gánh nặng nợ nước ngoài cho nền kinh tế. Các đặc tính này đã khiến cho nguồn kiều hối trở thành một nguồn tài trợ quan trọng và đáng giá cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, đặc biệt từ đầu thập kỷ này. Nhờ có nguồn chuyển tiền kiều hối, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế gia tăng, đây là những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong những năm qua.

2.2.5. Dịch vụ khác:

Các dịch vụ ngân hàng hiện đại đã được một số ngân hàng áp dụng ở mức độ ban đầu. Tuy nhiên, các dịch vụ này còn rất mới mẻ, phần lớn mới cho phép khách hàng ở việc tra cứu thông tin có liên quan đến số dư và hoạt động tài khoản; hệ thống pháp lý và cơ sở hạ tầng phục vụ các dịch vụ hiện đại còn hạn chế. Một số ngân hàng còn đang trong giai đoạn thử nghiệm do hạn chế về khả năng tài chính và chỉ mới cung cấp dịch vụ cho một số đối tượng khách hàng.
Lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam năm 2003 với ngân hàng ACB, Mobile-Banking khởi động những bước chậm chạp với các dịch vụ cơ bản như: thông tin số dư và liệt kê giao dịch của tài khoản, truy vấn thông tin về lãi suất, tỉ giá hối đoái, địa chỉ các trung tâm giao dịch, địa điểm đặt máy ATM, … Đến năm 2006, đa số các ngân hàng đã triển khai dịch vụ Mobile-Banking với sự bổ sung một số các dịch vụ thanh toán danh mục hóa đơn định kỳ đã được khách hàng đăng ký từ trước như: thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp, bảo hiểm,… và dịch vụ trích tiền từ tài khoản tiền gửi sang tài khoản thẻ (Visa Electron, Master Electronic, Citimart,…), phát triển hơn một chút là Techcombank với dịch vụ thanh toán mua sắm hàng hóa dịch vụ cho các đối tác thanh toán của Techcombank (các trung tâm mua sắm hay các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm, Internet). Tuy nhiên, nếu bạn muốn “thanh toán mọi thứ” qua di động thì đây vẫn là điều không thể.
Sang năm 2007, Mobile-Banking đã khởi sắc hơn với sự xuất hiện của dịch vụ đúng nghĩa là “Banking”, đó là dịch vụ “chuyển khoản qua Mobile” của Ngân hàng Đông Á, tuy nhiên mức tiền chuyển khoản vẫn bị giới hạn: trong một ngày khách hàng chỉ có thể chuyển khoản cao nhất 2 triệu đồng. Đây một phần là do hạn chế về mặt công nghệ, chính sự nghi ngờ vào độ an toàn của phương thức giao dịch này mà các nhà lãnh đạo ngân hàng chỉ đưa ra hạn mức chuyển khoản thấp như vậy, đây là một thiệt thòi của khách hàng.
Giai đoạn từ 2003 đến nay, với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 400%/năm, số lượng tài khoản tại Việt Nam đã gấp khoảng 16 lần và theo một dự báo được đưa ra vào những ngày đầu năm 2007, do những chính sách của nhà nước bắt buộc hay khuyến khích đối với các đối tượng khác nhau trong việc thanh toán không dùng tiền mặt thì đến 2010 số lượng tài khoản cá nhân sẽ là 20 triệu, đến năm 2020 số lượng tài khoản cá nhân sẽ là 45 triệu – khoảng ½ dân số Việt Nam. Ngân hàng nào triển khai được nhiều dịch vụ tiện ích, giao dịch thuận tiện nhanh chóng sẽ là sự lựa chọn của khách hàng.
Đối với dịch vụ thẻ ATM, từ khi các doanh nghiệp thông qua thẻ ngân hàng để chi trả lương, thưởng, số lượng thẻ phát hành của các ngân hàng đã tăng lên nhanh chóng. Đến 3/2008, tổng số máy ATM của toàn hệ thống ngân hàng khoảng 5.700 máy với số lượng thẻ lên đến khoảng 10 triệu thẻ. Trong đó, 5 ngân hàng thuộc hệ thống Banknetvn và Smartlink là 3.614 máy, chiếm 64% tổng số máy ATM tại thị trường Việt Nam; số thẻ phát hành đạt 8,6 triệu thẻ, chiếm 86% thị phần thẻ trong cả nước.
Từ ngày 23/5/08 Hệ thống thanh toán thẻ Banknetvn và Smartlink đã chính thức liên thông. Tất cả các chủ thẻ của 1 trong 5 ngân hàng: Vietcombank, Vbard, BIDV, Vietinbank và Techcombank có thể giao dịch trên máy ATM của 5 ngân hàng hệ thống này.
(Nguồn: Thông cáo báo chí của NHNN ngày 23/5/08)
Tiện ích chủ yếu của thẻ ngân hàng là dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ thay vì dùng tiền mặt, nhưng thực tế hơn 70% các giao dịch của khách hàng trên máy ATM hiện nay chỉ để rút tiền. Các ngân hàng hiện đang triển khai thanh toán dịch vụ, hàng hóa bằng thẻ như trả phí bảo hiểm, tiền điện, cước điện thoại cố định, điện thoại di động... Tuy nhiên khách hàng sử dụng thẻ ngân hàng để thanh toán cho các dịch vụ này chỉ khoảng 30% trên tổng các giao dịch, chủ yếu vẫn là rút tiền.
Một trong những lý do người dân chưa thanh toán bằng thẻ là do tiện ích của thẻ ngân hàng chưa cao như dùng thẻ thanh toán hàng hóa thì phải đến quầy có đặt máy quẹt thẻ và mất 5 - 10 phút mới hoàn thành xong giao dịch. Trong khi đó, rút tiền mặt từ máy ATM rồi thanh toán vẫn nhanh hơn, chưa kể đến việc máy bị trục trặc...
Các ngân hàng hiện nay cũng đang phải tính toán chi phí đầu tư máy ATM, máy POS (máy quẹt thẻ). Với cách đầu tư cục bộ, các ngân hàng phải bỏ ra chi phí lớn, bởi giá mỗi máy ATM khoảng 20.000 - 30.000 USD, giá máy POS khoảng 800 - 900 USD. Trong khi đó, nếu các ngân hàng hợp tác thì số lượng điểm chấp nhận thẻ sẽ tăng lên theo cấp số nhân. Chính vì các điểm chấp nhận thanh toán thẻ ngân hàng hiện nay vẫn còn hạn chế, sự bất cập khi chọn phương thức thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng thẻ ngân hàng đã khiến tình trạng rút tiền từ máy ATM trở nên phổ biến. 
Đối với dịch vụ ngân quỹ, phần lớn các NHTM thuộc hệ thống đều hướng vào các tiện ích thu, chi hộ cho các đối tượng khách hàng như: thu đổi tiền mặt VND, ngoại tệ, dịch vụ nộp, rút tiền mặt, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, dịch vụ cất giữ, dịch vụ chi lương trực tiếp, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng…Thông qua các dịch vụ này, khách hàng có thể đến bất cứ điểm giao dịch nào của các ngân hàng có cung cấp dịch vụ để chuyển đổi tiền VND sang ngoại tệ khác và ngược lại hoặc chỉ cần khách hàng gọi điện thoại thì sẽ có nhân viên ngân hàng đến tận nhà để thu tiền gửi với mức phí hợp lý. Bên cạnh đó, các NHTM còn cung cấp dịch vụ thu, chi hộ tiền mặt tại công ty hoặc tại nhà, cất giữ những đồ vật có giá trị, tài sản quý hiếm, giấy tờ có giá, giấy tờ quan trọng không có nơi cất giữ, bảo quản an toàn.

2.3. Chiến lược để NHTM Việt Nam phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng:

2.3.1. Cơ hội cho các NHTMVN trong tiến trình hội nhập: 

Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng VN, nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả năng tổng hợp, hệ thống tư duy xây dựng các văn bản pháp luật trong hệ thống ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết với hội nhập quốc tế. 
Thứ hai, hội nhập quốc tế mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra giải pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống NHTMVN trong các giao dịch quốc tế. Đồng thời, các ngân hàng VN có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ, phát huy lợi thế so sánh của mình để theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra nước ngoài. 
Thứ ba, hội nhập quốc tế giúp các NHTMVN tiếp cận và chuyên môn hoá các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. Chính hội nhập quốc tế cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia tất cả các dịch vụ ngân hàng tại VN buộc các NHTMVN phải chuyên môn hoá sâu hơn về nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng ở VN. Hơn nữa, việc mở cửa thị trường cho hàng hoá xuất khẩu VN cũng sẽ là một cơ hội tốt để các ngân hàng mở rộng kinh doanh. Các NHTMVN sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh hơn, có nhiều khách hàng hơn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. 

2.3.2. Thách thức đối với các NHTMVN trong tiến trình hội nhập :

Thứ nhất, các NHTMVN ngày càng chịu áp lực trong việc giữ và mở rộng thị phần của mình ngay trên lãnh thổ VN. Hiện nay, các NHTM phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt không chỉ bởi các NHTM nước ngoài mà còn phải chịu áp lực cạnh tranh với các tổ chức tài chính trung gian khác và các định chế tài chính khác như thị trường chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm,vv.. Ngoài ra, việc phải loại bỏ dần những hạn chế đối với NHTM nước ngoài có nghĩa là các NHTM nước ngoài sẽ từng bước tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại VN.  
STT
Loại hình ngân hàng
SL
Chi nhánh và SGD
1
06
515
2
33
593
3
01
01
4
37
37
5
05
24
6
09
17
7
13
19
7
53
53
Tổng số
157
1.259









(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Thứ hai, cạnh tranh trong việc huy động vốn ngày càng gay gắt. Thực hiện hội nhập đòi hỏi chúng ta phải thực hiện lộ trình cởi bỏ những hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài trong việc huy động vốn. Hội nhập ngân hàng đòi hỏi các NHTMVN phải nhanh chóng tăng quy mô, đầu tư công nghệ, cải tiến trình độ quản lý. Công nghệ hiện đại và trình độ quản lý cũng như tiềm lực tài chính dồi dào của những ngân hàng nước ngoài sẽ là những ưu thế cơ bản tạo ra sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng và buộc các ngân hàng VN phải tăng thêm vốn, và đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương pháp quản trị, hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh. 
Thứ ba, cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng ngày cành quyết liệt. Ngày nay, ngoài những nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và đầu tư thì dịch vụ ngân hàng cũng tạo nên sắc thái mới cho ngân hàng trong chiến lược cạnh tranh vào tạo thị phần cho mình. Do đó, các NHTMVN cũng phải chịu áp lực tạo nên phong cách văn hoá cho ngân hàng mình, tạo nên phong cách phục vụ riêng thể hiện nét đặc thù của mình mới hy vọng tạo thế đứng vững chắc trên thị trường. 
Thứ tư, cạnh tranh trong việc sử dụng lao động ngày càng gay gắt. Mọi sự thành công của một doanh nghiệp đều xuất phát từ yếu tố con người. Hiện nay, chế độ đãi ngộ cho lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao ở các NHTMVN chưa đủ sức thuyết phục để lôi kéo những lao động có trình độ chuyên môn cao. Hiện tượng chảy máu chất xám là căn bệnh nan y không chỉ đối với ngành tài chính – ngân hàng mà đối với tất cả các ngành kinh tế ở VN. 

2.3. 3. Điểm mạnh của các NHTMVN :

Thứ nhất, VN có chế độ chính trị ổn định và được đánh giá là điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư. Trong điều kiện thế giới hiện nay diễn ra các xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố,… thì sự ổn định về hệ thống chính trị là thế mạnh trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước. 
Thứ hai, Đảng, Chính phủ luôn quan tâm đến việc lành mạnh hoá hệ thống tài chính và hiện đại hoá hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước với chức năng là cơ quan đại diện của Chính phủ VN đã phối hợp với các bộ ngành trong việc nghiên cứu ký kết và xúc tiến được nhiều chương trình  hỗ trợ tài chính từ các tổ chức quốc tế. Quan hệ song phương và đa phương giữa Ngân hàng Nhà nước VN với các cơ quan, tổ chức của nhiều nước và vùng lãnh thổ được phát triển tích cực. Ngân hàng Nhà nước đã tích cực tham gia các hoạt động nhằm đẩy mạnh sự hợp tác về tài chính – ngân hàng với các tổ chức tài chính đa phương như ASEAN, APEC và WTO. 
Thứ ba, NHTMVN có số lượng khách hàng tuyền thống đa dạng, với số lượng nhiều và được phục vụ bởi hệ thống rộng khắp ở 64 tỉnh thành. Mạng lưới phục vụ được trải dài từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi lên miền ngược đầy là lợi thế rất lớn đối với hệ thống NHTMVN khi cung ứng sản phẩm dịch vụ của mình cho khách hàng. 
Thứ tư, người VN xưa nay có truyền thống hiếu học, cần cù, thông minh, chịu khó. Do đó, đây là yếu tố thuận lợi trong việc tiếp thu công nghệ mới của khu vực và thế giới. Ngoài ra, chi phí lao động ở VN rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. 

2.3.4. Điểm yếu của các NHTMVN :

Thứ nhất, hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất quán,..và một trong những thách thức lớn trong tiến trình hội nhập. Hội nhập quốc tế làm tăng giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng, trong khi đó cơ chế quản lý và hệ thống thông tin tỷ giá, giá cả của ngân hàng còn rất sơ khai, không phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa có hiệu quả và hiệu lực để đảm bảo việc tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về ngân hàng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng. 
Thứ hai, quy mô về vốn của các ngân hàng thương mại VN còn nhỏ, quy mô về tín dụng chưa cao, trình độ công nghệ, trình độ quản lý của các NHTMVN còn thấp. Nhóm NHTM nhà nước tuy chiếm gần 70% tổng nguồn vốn huy động và gần 80% thị phần tín dụng nhưng chỉ có tổng số vốn tự có chưa tới 1 tỷ USD, từng NHTM trong nhóm các NHTM nhà nước đạt tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản chưa tới 5% (thông lệ tối thiểu của ngân hàng quốc tế đạt tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản là 8%). Khối NHTM cổ phần với 36 ngân hàng chỉ chiếm 11% tổng nguồn vốn huy động và 10% thị phần tín dụng. Nhóm chi nhánh các ngân hàng nước ngoài và liên doanh (30 ngân hàng) có tiềm lực khá mạnh với 30% vốn chủ sở hữu trong hệ thống NHTM đang hoạt động tại VN nhưng nhìn chung họ có ưu thế hơn các NHTMVN về công nghệ, loại hình dịch vụ, chiến lược khách hàng, hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản.  
Thứ ba, dịch vụ ngân hàng của các NHTMVN, còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện ích chưa cao, chưa tạo thuận lợi và bình đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ khách hàng. Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo thu nhập cho các ngân hàng, các nghiệp vụ như môi giới, thanh toán dịch vụ qua ngân hàng, môi giới kinh doanh, tư vấn dự án chưa phát triển. Cho vay theo chỉ định của Nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng của NHTMVN. Việc mở rộng tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có những chuyển biến tích cực nhưng còn nhiều vướng mắc. Hầu hết các chủ trang trại và các công ty tư nhân khó tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng và vẫn phải huy động vốn bằng các hình thức khác. Bên cạnh đó, một số loại hình nghiệp vụ mới chưa được thực hiện tại VN hoặc chưa có quy định điều chỉnh nhưng đã được cam kết tại hiệp định cho phép các ngân hàng nước ngoài được thực hiện, sẽ buộc NHNNVN phải khẩn trương nghiên cứu và sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nghiệp vụ mới. 
Thứ tư, đội ngũ lao động của các NHTMVN khá đông nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập. Không có hệ thống khuyến khích hợp lý để thu hút nhân tài và áp dụng công nghệ hiện đại. Cơ cấu tổ chức trong nội bộ nhiều NHTM còn lạc hậu, không phù hợp với chuẩn mực quản lý hiện đại đã được áp dụng phổ biến nhiều năm nay ở các nước. 
Thứ năm, phần lớn các NHTM thiếu chiến lược kinh doanh hiệu quả và bền vững. Hoạt động kiểm tra kiểm toán nội bộ cón yếu, thiếu tính độc lập hệ thống thông tin báo cáo tài chính, kế toán và thông tin quản lý còn chưa đạt tới chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đặc biệt là các NHTM Nhà nước là tình trạng nợ xấu khá phổ biến, mặc dù đã cố gắng khắc phục nhưng hiện nay tỷ nợ nợ xấu khoảng 4,1%. Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng mặc dù đã được nâng lên từ 3,5% lên 5% nhưng vẫn chưa đạt tới các tiêu chuẩn quốc tế. 

2.4. Giải pháp phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam:

2.4.1.Hoàn thiện các qui định pháp lý:

Việc khởi động chung và có lẽ cũng là quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhằm đáp ứng yêu cầu đã cam kết khi gia nhập WTO là việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật với phương châm: Hoàn thiện và minh bạch. Việc hoàn thiện pháp luật của NHNN tức là việc nghiên cứu bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới các quy định pháp luật phục vụ công tác quản lý của NHNN.
Chính vì vậy, ngay từ khi chuẩn bị thực hiện hội nhập, NHNN đã khởi động và đang xúc tiến các chương trình: Xây dựng NHNN Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung ương hiện đại; Chỉ đạo việc tổng kết các Luật Ngân hàng và tiến hành thành lập Ban soạn thảo Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng cũng như thực hiện các bước triển khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt.
 Ngày 17 tháng 10 năm 2007, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 2449/QĐ-NHNN về “Chương trình hành động của NHNN Việt Nam thực hiện chương trình hành động của Chính phủ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới giai đoạn 2007- 2012. Có thể tóm tắt những nội dung cơ bản sau đây:
- Xây dựng và phát triển thị trường tiền tệ: bao gồm hoàn thiện những điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với chuẩn mực của Việt Nam. Cụ thể là: Nâng cao năng lực xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ theo hướng: chủ động, linh hoạt, bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế…
- Phát triển toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng theo hướng hiện đại, hoạt động đa năng, đa dạng về sở hữu và về loại hình, đủ điều kiện hoạt động lành mạnh, ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh; đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc thị trường…
- Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của NHNN, hoàn thiện các quy định quản lý, đặc biệt là việc nâng cao năng lực giám sát và quản lý rủi ro đối với các hoạt động của các tổ chức tín dụng.
- Đổi mới mạnh mẽ công tác cải cách hành chính, xây dựng NHNN Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung ương hiện đại với mô hình tổ chức và quản lý mới; chú trọng phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn nghiệp vụ cao…
Thiết nghĩ, để thực hiện có hiệu quả chương trình hành động trên đây của NHNN, phải có bước đi phù hợp, trong đó đáng lưu ý là việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát, hạn chế tình trạng đô la hoá, nâng cao giá trị đồng tiền Việt Nam, và tăng cường công tác quản lý và thanh tra giám sát ngân hàng… Song song với việc này còn phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của Chính phủ, và sự phối hợp có hiệu quả của các cấp, các ngành như: Kế hoạch đầu tư, Tài chính, Công thương… Chúng ta không còn đường lùi mà chỉ có đường hướng tới và phải đạt được những cam kết của WTO, đây không chỉ là việc tổ chức thực hiện mà phải thể hiện sự quyết tâm của cả Ngành và mỗi cán bộ công nhân viên chức ngân hàng.
Trong điều kiện mở cửa dịch vụ ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cần nâng cao năng lực xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua một loạt biện pháp  dự kiến được triển khai  từ nay đến năm 2010 như sau:
- Thành lập Ban Điều hành thị trường tiền tệ để tăng cường sự thống nhất, phối hợp giữa các Vụ, Cục trong điều hành CSTT và các thị trường tiền tệ bộ phận; gắn điều hành tỷ giá với lãi suất; gắn điều hành nội tệ với điều hành ngoại tệ ;
- Hoàn thiện các cơ chế điều hành các công cụ CSTT nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ của từng công cụ, tăng cường vai trò chủ đạo của nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành CSTT;
- Nghiên cứu, lựa chọn lãi suất chủ đạo của NHNN để định hướng và điều tiết lãi suất thị trường;
- Đổi mới một cách căn bản công tác dự báo và xây dựng CSTT hàng năm theo hướng áp dụng mô hình kinh tế lượng vào phân tích dự báo và lượng hóa các mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ; Nâng cao năng lực phân tích và dự báo tiền tệ, dự báo lạm phát;
- Nâng cấp và đồng bộ hóa máy móc thiết bị, chương trình phần mềm ứng dụng nối mạng các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ và đấu thầu tín phiếu, trái phiếu chính phủ qua NHNN;
- Nghiên cứu hình thành cơ chế chuyển tải tác động từ các công cụ CSTT đến lạm phát.

2.4.2. Đa dạng hóa các kênh phân phối và thực hiện phân phối có hiệu quả.

Trong xu thế hội nhập, phát triển dịch vụ ngân hàng được xác định là một định hướng chiến lược quan trọng của các NHTM Việt Nam. Trong đó, việc phát triển các kênh phân phối là một trong những giải pháp tiên quyết, đòi hỏi phải tích cực phát triển mạng lưới các chi nhánh cấp I, chú trọng mở rộng thêm các phòng giao dịch vệ tinh với mô hình gọn nhẹ. Bên cạnh việc duy trì và mở rộng các kênh phân phối truyền thống như các chi nhánh, các phòng giao dịch, các NHTM cần nghiên cứu và ứng dụng các kênh phân phối hiện đại, đồng thời tăng cường quản lý phân phối nhằm tối đa hóa vai trò của từng kênh phân phối một hiệu quả, đáp ứng yêu cầu giao dịch ở mọi lúc, mọi nơi như:
- Tăng cường hiệu quả và khả năng tự phục vụ của hệ thống ATM nhằm cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau với chi phí rẻ hơn, nâng cấp hệ thống ATM thành những “ngân hàng thu nhỏ” trải đều khắp các tỉnh, thành phố. Đồng thời, phát triển mạng lưới các điểm chấp nhận thẻ (POS) và tăng cường liên kết giữa các NHTM để nâng cao hiệu quả và mở rộng khả năng sử dụng thẻ ATM và thẻ POS;
- Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận dụng sự phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet. Trong đó, các NHTM cần sớm đưa ra các loại dịch vụ mới để khách hàng có thể đặt lệnh, thực hiện thanh toán, truy vấn số dư và thông tin về cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, v.v;
- Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại, đây là mô hình phổ biến với chi phí rất thấp, tiện lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại bất cứ thời gian, địa điểm nào;
- Mở rộng các kênh phân phối qua các đại lý như, đại lý chi trả kiều hối, đại lý phát hành thẻ ATM, đại lý thanh toán.
Quá trình phát triển và hoàn thiện dịch vụ ngân hàng phải được thực hiện từng bước, vững chắc, đồng thời có bước đột phá để tạo đà phát triển nhanh chóng trên cơ sở giữ vững thị phần đã có và mở rộng thị trường, tạo nhiều tiện ích cho người sử dụng dịch vụ, kết hợp hài hoà lợi ích khách hàng với lợi ích của ngân hàng và có lợi cho nền kinh tế.

2.4.3. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ.

Mở rộng và đa dạng hóa các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng theo hướng hiện đại hóa, nhằm đưa các khoản thu về dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng doanh thu, đồng thời dần trở thành khoản thu chính trong tổng nguồn thu của ngân hàng.
Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân, hình thành bộ phận nghiên cứu chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó, tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổi trội trên thị trường nhằm tạo sự khác biệt trong cạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng.
Phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phát huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt bất hợp pháp, nhanh chóng nâng cao tính thanh khoản của VND và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc thanh toán cá nhân, đẩy mạnh huy động vốn qua tài khoản tiết kiệm. Các NHTM cũng cần tăng cường hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp có các khoản thanh toán dịch vụ thường xuyên, ổn định số lượng khách hàng, trả lương như bưu điện, hàng không, điện lực, cấp thoát nước, kinh doanh xăng dầu.
Phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác như tăng cường thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, tổ chức chuyển tiền ở nước ngoài, các ngân hàng đại lý nước ngoài. Có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng.
Triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, kinh doanh ngoại hối, môi giới bất động sản, cho thuê két sắt an toàn, phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, dịch vụ tư vấn đầu tư và các dịch vụ về đại lý thanh tóan, chuyển tiền... cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng. Tăng cường bán chéo sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và bảo hiểm, vì có tới 50% khách hàng sử dụng một sản phẩm duy nhất là tài khoản nhận lương.
Triển khai rộng rãi các dịch vụ thanh toán điện tử và các hệ thống giao dịch điện tử, tự động, áp dụng rộng rãi các công cụ thanh toán mới theo tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm tiền điện tử, thẻ thanh toán nội địa, thẻ thanh toán quốc tế, thẻ đa năng, séc. Mở rộng các hình thức thanh toán quốc tế như: L/C, bao thanh toán, chuyển tiền quốc tế…; tiến tới mở rộng việc hình thành thẻ thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Nghiên cứu, phát triển các dịch vụ mới như: môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, quản lý danh mục đầu tư, các dịch vụ thanh toán và quyết toán đối với các tài sản tài chính, dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh các sản phẩm tài chính phát sinh.

2.4.4. Tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng          

Việc quảng bá, tiếp thị các sản phẩm dịch vụ đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng. Tăng cường chuyển tải thông tin tới công chúng qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm giúp khách hàng có thông tin cập nhật về năng lực và uy tín của ngân hàng. Cung cấp đầy đủ và kịp thời về các dịch vụ truyền thống và hiện đại của NH, giúp khách hàng nắm được cách thức sử dụng ,lợi ích của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tạo lòng tin cho khách hàng khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
Tăng cường và thường xuyên quan tâm đến việc chăm sóc khách hàng, đặc biệt là khách hàng truyền thống, khách hàng VIP … như vào các dịp lễ, sinh nhật,cuối năm.
Tổ chức các cuộc hội thảo về nghiệp vụ, hội nghị khách hàng … để trao đổi, học tập kinh nghiệm giữa các bên, giải quyết các vướng mắc phát sinh trong giao dịch, từ đó tạo mối quan hệ hợp tác lâu dài và gắn kết giữa khách hàng và ngân hàng.

243.5. Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ.

Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phù hợp với trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng việt nam và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế. Phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến và từng bước triển khai rông rãi hệ thống giao dịch một cửa. Hiện đại hoá đồng bộ hạ tầng kỹ thuật công nghệ trên phạm vi toàn hệ thống ngân hàng; đồng thời bảo đảm sự tương thích và tính mở của hệ thống công nghệ thông tin. Hiện đại hoá các hệ thống thanh toán ngân hàng theo hướng tự động hoá, phát triển hệ thống thanh toán điện tử trong phạm vi toàn quốc và hiện đại hoá hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng kết nối đến hầu hết các NHTM để hình thành hệ thống thanh toán quốc gia thống nhất và an toàn. Cụ thể:
a. Trong ngắn hạn:
Phát triển các kênh giao dịch điện tử, trước hết ở các thành phố, trung tâm kinh tế lớn;
Tổng kết chương trình tái cơ cấu, đặc biệt là chương trình phát triển thể chế quản trị mới của NHTMNN để rút kinh nghiệm, đẩy mạnh và nhân rộng chương trình này ra cho cácc NHTMCP (chiến lược kinh doanh, sổ tay tín dụng, kiểm tóan nội bộ, quản trị rủi ro...);
b. Trong trung hạn:
Hoàn thiện và chuẩn hóa các qui trình tác nghiệp và quản lý nghiệp vụ ngân hàng;
Hoàn thiện xây dựng các phần mềm quản lý nghiệp vụ ngân hàng cơ bản (quản lý tín dụng, tài trợ thương mại, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, quản lý tài chính - kế toán, dịch vụ thanh tóan).
Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý tập trung tại Hội sở chính của các NHTMNN.
c. Trong dài hạn:
Tiếp tục triển khai hiện đại hóa hệ thống thanh tóan và ngân hàng giai đọan II ;
Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin tích hợp toàn bộ hệ thống các ứng dụng công nghệ với hệ thống dịch vụ trong toàn bộ màng lưới của các NHTMNN; triển khai hệ thống giao dịch trực tuyến đến hầu hết các chi nhánh của NHTMNN.

2.4.6. Phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống ngân hàng.

Tăng cường năng lực, hiệu quả của bộ máy quản trị (Hội đồng quản trị), bộ máy điều hành (Ban điều hành) và các phòng, ban tại Hội sở chính thông qua cơ cấu lại tổ chức để xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận.
Xây dựng kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010. Các NHTM  trước hết cần tạo ra những động lực và đòn bẩy khuyến khích từng cá nhân tự học tập và rèn luyện, sau đó cần đầu tư phát triển đội ngũ chuyên gia giỏi thông qua chương trình đào tạo chuyên sâu, có tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác. Những chuyên gia này sẽ là lực lượng nòng cốt truyền bá kiến thức mới về hoạt động ngân hàng trong các NHTM.
Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng; yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của bất cứ một hoạt động nào trên mọi lĩnh vực. Đối với hoạt động tín dụng thì yếu tố con người lại càng đóng một vai trò quan trọng, nó quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hình ảnh của NHTM và từ đó quyết định đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng.
Bởi vậy, cần dành một quỹ thời gian để hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thương thảo hợp đồng và văn hoá kinh doanh.

2.4.7. Các giải pháp khác.

NHNN và các NHTM cần phối hợp với Tổng cục Thống kê trong việc xây dựng danh mục dịch vụ ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế, làm cơ sở để xây dựng hệ thống báo cáo định kỳ về các loại hình dịch vụ cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng quản trị, điều hành.
Xây dựng hệ thống chấm điểm khách hàng cá nhân nhằm giảm nhẹ rủi ro, có thể ra quyết định cho vay một cách nhanh chóng, chính xác. Xây dựng bộ phận quản lý và phân loại khách hàng nhằm xác định mức chi phí và lợi nhuận của từng phân đoạn khách hàng, thực hiện tốt chính sách khách hàng, triển khai mô hình tổ chức kinh doanh theo định hướng khách hàng và chủ động tìm đến khách hàng, xác định nhu cầu của từng nhóm khách hàng, từ đó đưa ra các loại sản phẩm và dịch vụ phù hợp.
Mỗi NHTM cần thành lập bộ máy điều hành, nghiên cứu và thực thi việc phát triển dịch vụ ngân hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng và chú trọng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động ngân hàng.
Nâng cao năng lực đánh giá thẩm định và quản lý tín dụng phù hợp thông lệ quốc tế, chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ tín dụng và đơn giản hoá thủ tục cấp tín dụng, nhưng vẫn đảm bảo các quy định về an toàn hoạt động.
Nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Bảo đảm duy trì danh mục tín dụng và tài sản có mức độ sinh lời tương xứng với mức độ rủi ro. Thự hiện  nguyên tắc hạn chế tập trung rủi ro tín dụng và đa dạng hóa ngân hàng, lĩnh vực và khách hàng, đồng thới xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hữu hiệu, hệ thống chấm tín dụng nội bộ, công cụ hạn mức tín dụng, hệ thống thông tin tín dụng, nhất là thông tin về khách hàng và môi trường kinh doanh.
Tóm lại, để nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh của hoạt động tín dụng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là một vấn đề không đơn giản, không chỉ đối với bản thân các NHTM mà còn liên quan tới hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng, thực hiện giám sát an toàn hoạt động ngân hàng, theo hướng minh bạch, hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế.


MỤC LỤC